https://nongnghiepmoitruong.vn/trong-san-khi-rung-chua-khep-tan-va-bai-toan-sinh-ke-d795563.html
Sắn đã là ‘cây tỷ đô’, gắn sinh kế của hàng triệu hộ dân và giữ vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản, nhưng tiềm năng của ngành vẫn chưa khai thác hết.
Cây sắn – điểm tựa vững chắc cho an sinh xã hội ở Đông Cuông
Quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp trên cây sắn
Khoa học giúp hồi sinh cây sắn – cây giảm nghèo
Năng suất thấp, canh tác manh mún và chuỗi cung lỏng lẻo đang là những điểm nghẽn lớn nhất của ngành sắn Việt Nam. Theo TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT, nếu không xử lý đồng thời 3 vấn đề này, ngành sắn sẽ khó đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, khó ứng dụng khoa học công nghệ và ngày càng rủi ro khi hội nhập.
Tại cuộc họp “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức” sáng 28/1, ông Tuấn cho rằng, cần tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi trên. Cụ thể, vì sao năng suất sắn của Việt Nam thấp nhất khu vực; sử dụng đất theo hướng thâm canh hay luân canh; và làm thế nào để gắn kết người trồng sắn với nhà máy chế biến khi hơn 95% sản lượng hiện nay vẫn giao dịch tự do, không hợp đồng.

TS Hà Công Tuấn chia sẻ về những điểm nghẽn lớn nhất với ngành sắn hiện nay. Ảnh: Bảo Thắng.
Vấn đề không chỉ là giống
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến năm 2025, diện tích trồng sắn của Việt Nam duy trì khoảng 500.000 ha, sản lượng đạt khoảng 10,2 – 10,5 triệu tấn củ tươi mỗi năm, năng suất bình quân 20,5 – 21 tấn/ha. Mức này thấp hơn đáng kể so với Thái Lan và Indonesia, nơi năng suất phổ biến cao hơn nhờ thâm canh đồng bộ, giống chuyên hóa và quản lý đất chặt chẽ.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, Việt Nam hiện chủ yếu sử dụng 3 nhóm giống sắn chính, song việc nhân giống, kiểm soát chất lượng và chuyển giao kỹ thuật còn phân tán. Phần lớn diện tích sắn được trồng trên đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, canh tác liên tục nhiều năm nhưng ít cải tạo đất, dẫn đến suy thoái độ phì và giảm năng suất dài hạn.
Trong khi đó, đầu tư cho nghiên cứu giống sắn vẫn thiếu một chương trình quốc gia riêng, khiến năng suất tăng chậm và không đồng đều giữa các vùng.
Nhưng vấn đề với cây sắn không chỉ là giống, đó còn là cách sử dụng đất. TS Hà Công Tuấn chỉ ra, nếu thâm canh sắn, bắt buộc phải song hành với các biện pháp nâng cao độ màu, cải tạo đất và canh tác bền vững. Nếu luân canh, nguy cơ lớn nhất là đứt gãy truy xuất nguồn gốc và khó hình thành vùng nguyên liệu quy mô hàng hóa.
Thực tế cho thấy, phần lớn diện tích sắn hiện nay thuộc quy mô nhỏ lẻ, bình quân 0,5 – 0,6 ha/hộ. Việc luân canh tự phát theo giá thị trường khiến thông tin về lịch sử sử dụng đất, thời điểm canh tác và nguồn gốc nguyên liệu rất khó kiểm soát. Forest Trends đánh giá đây là rào cản lớn đối với truy xuất nguồn gốc, đặc biệt trong bối cảnh các thị trường quốc tế ngày càng siết chặt yêu cầu về tính hợp pháp và không gây mất rừng.

TS Hà Công Tuấn: ‘Có thể trồng sắn khi rừng chưa khép tán’. Ảnh: Bảo Thắng.
Vấn đề liên kết chuỗi cũng là một trăn trở. Hiện chưa tới 5% người trồng sắn ký hợp đồng trực tiếp với nhà máy; hơn 95% sản lượng vẫn bán qua thương lái. “Nếu không quản lý được mối quan hệ này thì không thể quản lý được chuỗi cung, càng không thể áp dụng khoa học công nghệ hay truy xuất nguồn gốc một cách thực chất”, TS Hà Công Tuấn nhấn mạnh.
Thông tin từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho thấy, dù cả nước có khoảng 350 – 380 hợp tác xã có thành viên trồng sắn, nhưng số HTX chuyên ngành sắn chỉ khoảng 40 – 50, liên kết hợp đồng ổn định mới bao phủ 20 – 25% sản lượng. Phần còn lại vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào giao dịch ngắn hạn và trung gian.
Doanh nghiệp phải đứng vào trung tâm chuỗi
Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam nhìn nhận, mô hình phát triển ngành sắn trước hết phải thân thiện với môi trường và hướng tới bền vững. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc “xóa” thương lái bằng mệnh lệnh hành chính, mà ở chỗ doanh nghiệp chế biến có đủ năng lực để trực tiếp gắn kết với người trồng sắn, hợp tác xã và tổ chức sản xuất theo chuỗi hay không.
Theo ông Tiến, phần lớn người trồng sắn hiện nay là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ hạn chế, khó tiếp cận tài chính và thanh toán không dùng tiền mặt. Thương lái vì thế tồn tại như một thực tế khách quan. Nếu doanh nghiệp không trực tiếp tổ chức vùng nguyên liệu, hướng dẫn kỹ thuật và thu mua ổn định, thì không thể cải thiện năng suất, thay đổi tập quán canh tác hay triển khai truy xuất nguồn gốc.
Forest Trends bổ sung, rằng người trồng sắn nhỏ lẻ hầu như không phải là đối tượng chính gây phá rừng, bởi sắn không mang lại lợi nhuận cao. Thực tế, diện tích sắn cả nước những năm gần đây có xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ. Nếu có trồng trên đất rừng thì chủ yếu là rừng sản xuất nghèo kiệt, đất trống đồi trọc – những nơi rất ít cây trồng khác có thể tồn tại.

Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.
Tổng kết cuộc họp, TS Hà Công Tuấn đề xuất một loạt giải pháp mang tính nền tảng. Trước hết, cần rà soát diện tích sắn (nếu có) trên đất lâm nghiệp, phân biệt rõ đâu là vùng trồng đã canh tác ổn định lâu dài.
Ông cũng đề nghị khuyến khích trồng sắn trong giai đoạn rừng trồng chưa khép tán như một biện pháp lâm sinh theo hướng nông – lâm kết hợp, vừa nâng cao chất lượng rừng vừa đảm bảo sinh kế. Đây là nội dung EUDR chưa quy định cụ thể, do đó Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần chủ động trao đổi với EU để hài hòa lợi ích giữa bảo vệ rừng, sinh kế và xuất khẩu bền vững.
Bên cạnh đó, cần lập bản đồ số, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng và xây dựng bộ tiêu chí chung cho các thị trường xuất khẩu. Chuỗi cung phải được tổ chức lại từ nông dân, các tổ chức trung gian đến nhà máy, với cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi ích hài hòa, trong đó vai trò của các bên liên quan cần được “định danh” rõ ràng để giải quyết dứt điểm bài toán truy xuất.
“Truy xuất nguồn gốc không thể chỉ dựa vào hóa đơn. Điều đó đúng với cả sản phẩm trong nước lẫn nguyên liệu nhập khẩu”, TS Hà Công Tuấn nhấn mạnh, đồng thời khuyến nghị việc nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để ngành sắn không chỉ trụ vững ở thị trường Trung Quốc mà còn hướng tới các thị trường cao cấp hơn trong tương lai.
Ông Tô Xuân Phúc, Giám đốc Forest Trends cho biết, ngành sắn hiện có quy mô tác động xã hội rất lớn, với số hộ tham gia còn cao hơn nhiều ngành hàng chủ lực khác. Ước tính, có khoảng hơn 1,2 triệu hộ gắn với cây sắn, cao hơn cà phê (khoảng 700.000 hộ), cao su (khoảng 250.000 hộ) và tương đương, thậm chí lớn hơn quy mô hộ trong ngành gỗ.
Tuy nhiên, trái với quy mô đó, thông tin và dữ liệu về ngành sắn lại hạn chế, khiến việc quản lý và hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn.
Bảo Thắng






